TIN CƠ SỞ

Đặc trưng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Hội nghị Trung ương 6 (khóa XIII)
Cập nhật lúc 08:00 ngày 09/05/2023 - Số lượt xem: 5110


1. Đặt vấn đề

Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế tất yếu khách quan đối với các nhà nước dân chủ trên thế giới hiện nay, trong đó có Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những quan điểm về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã xuất hiện từ lúc “khởi thủy”, những năm đầu lập nước, nó gắn liền với ước muốn, khát vọng của toàn dân tộc về một nhà nước độc lập, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở quy định của pháp luật, quyền con người, quyền công dân được “công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm”1 và “mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”2


Ảnh nguồn: Tạp chí Tuyên giáo.

Cùng với sự phát triển của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, những tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từng bước được ghi nhận và hoàn thiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng và hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Trong đó, Hiến pháp năm 2013 - đạo luật cơ bản hiện hành của Nhà nước và Nhân dân là văn bản ghi nhận đầy đủ nhất các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đặc biệt hơn nữa, Hội nghị Trung ương 6 (khóa XIII) của Đảng đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Có thể nói, tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW đã tiếp tục thực hiện ước muốn: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”3 và trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”4. Tinh thần đó có thể nói, đó chính là những quan điểm, tư tưởng đầu tiên về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 2. Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Nghị quyết số 27-NQ/TW

Nghị quyết số 27-NQ/TW được ban hành đã sửa đổi, bổ sung và phát triển về những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành tám đặc trưng như sau:

Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Khoản 1, khoản 2, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã chỉ rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Với quy định trên, Hiến pháp năm 2013 đã chỉ rõ một đặc trưng rất quan trọng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thể hiện rất rõ nguyên tắc cơ bản - nguyên tắc chủ quyền nhân dân. Bên cạnh đó, khoản 1, khoản 2, Điều 4 Hiến pháp năm 2013 cũng ghi nhận: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”.  Nghị quyết số 27-NQ/TW đã “gắn” các nguyên tắc; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, tất cả vì hạnh phúc của Nhân dân thành một nguyên tắc chung, điều này càng khẳng định mối liên hệ “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”5.

Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán. Sau hơn 17 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện cả về nội dung, hình thức và kỹ thuật lập pháp, theo hướng thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch; thể hiện tư duy lập pháp mới trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hệ thống pháp luật của nước ta đã có bước chuyển quan trọng sang hệ thống pháp luật của thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng. Với vai trò là công cụ quản lý nhà nước và xã hội, pháp luật còn là công cụ để Nhân dân làm chủ, kiểm tra và giám sát quyền lực nhà nước. Tuy vậy, cũng rất cần được tiếp tục hoàn thiện để Hệ thống pháp luật của nước ta mở rộng phạm vi điều chỉnh bao quát hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội với một trình độ lập pháp tiến bộ.

Thứ ba, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đề cao nguyên tắc: “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”.

Theo khoản 1, Điều 119, Hiến pháp năm 2013, ghi nhận:“Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý”. Ngoài việc thượng tôn Hiến pháp mà còn phải thượng tôn pháp luật. Trong Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên, quyền con người được ghi nhận theo nghĩa là độc lập với quyền công dân, đã chứng minh Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chỉ bảo vệ quyền công dân mà còn bảo vệ quyền con người, điểm đột phá trong Hiến pháp năm 2013 so với các hiến pháp trước là việc ghi nhận tại Khoản 1, Điều 14 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật và cũng là lần đầu tiên giới hạn của các quyền bởi nguyên tắc Hiến định “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14). Theo đó, không ai được giới hạn các quyền con người, quyền công dân, ngoại trừ các trường hợp cần thiết do luật định. Nghị quyết số 27-NQ/TW đã mở rộng, phát triển về đặc điểm “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”, đó là do quá trình phát triển trong kỹ thuật lập hiến, lập pháp đúc kết thành và tổng kết hoạt động thực tiễn cùng với quan điểm mới của Đảng. Đặc điểm này đã gắn chặt nguyên tắt thượng tôn pháp luật với việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân và rất cần thiết được triển khai thực hiện trong thực tế đời sống một cách hiệu quả hơn.

Thứ tư, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì quyền lực Nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), ghi nhận: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ;...”, lần đầu tiên ghi nhận thuật ngữ “kiểm soát” về quyền lực, do bởi khách quan quyền lực cần phải được kiểm soát nhằm chống lạm quyền, lộng quyền,… tiếp theo đó, Khoản 3, Điều 2, Hiến pháp năm 2013, ghi nhận: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Có hai khía cạnh trong cấu trúc phân quyền đó là thực chất là sự phân chia quản lý Nhà nước giữa các cơ quan nhà nước, không có cơ quan nào trong ba cơ quan thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay. Không cho phép lấn át chức năng giữa các cơ quan trong nhà nước pháp quyền. Không tồn tại thứ quyền lực nào mà không bị quy định bởi Hiến pháp và pháp luật. Mặt khác, sự phân chia không phải là biệt lập, tuyệt đối mà là phân công, phối hợp thống nhất tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước chuyên sâu trong thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực nhân dân. Nhiều chuyên gia, nhà khoa học pháp lý ở trong và ngoài nước, qua quá trình nghiên cứu đều khẳng định rằng “sự phân chia quyền lực không những không làm ảnh hưởng đến thống nhất quyền lực mà còn là điều kiện đảm cho sự thống nhất quyền lực”. Nghiên cứu các quy định của Hiến pháp năm 2013 cho thấy việc phân công quyền lực nhà nước đã có sự rạch ròi. Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chính phủ được quy định không chỉ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cơ quan chấp hành của Quốc hội, mà còn là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Tòa án nhân dân được bổ sung là cơ quan “thực hiện quyền tư pháp”, ngoài quy định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những quy định nêu trên thể hiện tính thống nhất với nguyên tắc tổ chức quyền lực của Nhà nước ta được ghi nhận ở Điều 2 của Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả nhằm đảm bảo tính “chính danh” trong từng hệ thống cơ quan và cơ quan phù hợp với chức năng nhiệm vụ và quyền hạn đã được Hiến pháp và pháp luật quy định.

Thứ năm, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại. Sau công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp “dài hơi” trong thời gian qua đã đem đến nhiều kết quả tích cực, tuy bên cạnh đó cũng còn nhiều điểm cần tiếp tục “cải tiến”. Nhưng về vị trí độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án đã được đề cao rất rõ. Hiến pháp khẳng định công bằng và công lý của quốc gia được thể hiện tập trung nhất bằng quyền xét xử của tòa án; nhân dân sẽ có địa chỉ cụ thể để tham gia xây dựng và giám sát việc thực thi quyền tư pháp. Khoản 3, Điều 102 Hiến pháp năm 2013 đã đưa lên hàng đầu vai trò và nhiệm vụ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, sau đó mới quy định “bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Vai trò tư pháp độc lập được đề cao cũng là sự thể hiện xuyên suốt nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và giám sát lẫn nhau giữa ba cơ quan và đảm bảo chuyên sâu trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước, quyền lực Nhân dân. Bên cạnh đó, nền hành chính quốc gia đã có những bước chuyển biến vô cùng tích cực, rõ nét nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin, hoàn thiện môi trường số, “số hóa” các hoạt động hành chính từ thể chế đến thủ tục, tạo nhiều điều kiện thuận tiện cho công dân trong các mối liên hệ hành chính đó, lại vừa giảm chi phí, thời gian, giảm phiền hà… góp phần to lớn trong công cuộc phòng, chống tham nhũng quốc gia.

Thứ sáu, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có bộ máy Nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Sự ra đời của Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tinh thần nghị quyết đã đem đến những thành tựu trong thực tiễn của thời gian qua, nhiều đầu mối đã được tinh gọn, xiết chặt biên chế, giảm lượng người, tăng chất lượng công việc, tăng lương cơ sở… Về cơ bản, bộ máy phải được tin gọn nhằm đạt được nhiều mục tiêu như: giảm tính “nhàn rỗi” do thừa người, người làm việc thiếu tích cực “sáng cấp ô đi, chiều cấp ô về”, thiếu động lực công tác, đặc biệt là việc đầu tư cơ sở vật chất cồng kềnh đã dẫn tới khả năng lãng phí cho ngân sách, một khi bộ máy Nhà nước tinh gọn thì khả năng hoạt động sẽ dễ kiểm soát, kiểm soát ngày càng khoa học hơn, từ đó hoạt động đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả cao. Cũng cần thiết nghiên cứu nhập một số đơn vị hành chính từ đó giảm được lượng người làm trong một số bộ phận công quyền và góp phần tăng lương đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước.  

Thứ bảy, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính. Cũng từ kết quả tích cực mang lại từ tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Về yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước làm việc phải có tính chuyên nghiệp thể hiện sự am hiểu, có kiến thức, chứng tỏ kỹ năng làm việc tốt và có thái độ chuẩn mực đối với công việc của mình. Trong đó xác định rõ 4 yếu tố cơ bản để xác định tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức bao gồm: (1) kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về công việc mà cán bộ, công chức đảm nhận (kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên môn hẹp và kiến thức cần thiết để xử lý các tình huống xảy ra), (2) kỹ năng thực hiện công việc, (3) xây dựng quy trình công việc, (4) các yếu tố bổ trợ như: Môi trường làm việc, phương thức lãnh đạo, quản lý, thái độ làm việc, tình trạng sức khỏe, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đều là những yếu tố có tác dụng ảnh hưởng trực tiếp đến tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức... các yêu cầu đó trong thực tiễn từng bước đã được cải thiện và lan tỏa trong các hệ thống cơ quan nhà nước, việc chuẩn hóa đội ngũ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã được thực hiện khá toàn diện, cùng với đó công cuộc phòng, chống tham nhũng quốc gia cũng đã và đang trong giai đoạn phát triển rực rỡ đã giúp đội ngũ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày càng có điều kiện trau dồi phẩm chất, tăng cường liêm chính và hơn hết là nghiệp vụ phải tinh thông.

Thứ tám, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện việc quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả”. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hiện nay, việc đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ là xu thế tất yếu. Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, kịp thời đổi mới cơ chế làm việc và vận hành tổ chức bộ máy theo hướng hiện đại, hoạt động của bộ máy Nhà nước ta đã và đang tiệm cận những giá trị mới trong xu thế quản lý nhà nước trong sự phát triển của xã hội và cũng chỉ có quản trị quốc gia hiện đại thì mới mong đạt những hiệu quả như mong muốn.

3. Một số kiến nghị để hiện thực hóa ghi nhận của Nghị quyết số 27-NQ/TW, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tám đặc trưng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như trên nhằm “đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045” và những năm tiếp theo. Tuy nhiên, để hiện thực hóa thì cần những giải pháp như sau:

Một là, cần hiện thực hóa đặc trưng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạoNhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước thì phải quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước mà những vấn đề đó không có một cơ quan nào trong ba nhánh quyền lực nhà nước có thể thực hiện. Nhân dân phải là chủ thể trực tiếp lập ra các thiết chế có vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, văn bản luật tối cao. Chẳng hạn việc thông qua Hiến pháp nên được thực hiện bằng trưng cầu ý dân (đã có Luật trưng cầu ý dân năm 2015). Chỉ khi đó Hiến pháp mới thực sự là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất bởi vì Hiến pháp do chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước trực tiếp thông qua. Các thiết chế trong Bộ máy Nhà nước được lập ra từ Hiến pháp là sản phẩm của Hiến pháp sẽ mặc nhiên tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp. Hiện tại, Hiến pháp vẫn là sản phẩm do Quốc hội lập ra thì dù Hiến pháp có tự ghi nhận là Đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất nhưng suy cho cùng vẫn là sản phẩm của Cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc hội.

Hai là, cần hoàn thiện Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức tòa án để phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ba cơ quan đại diện cho việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chỉ trên cơ sở các đạo luật hoàn thiện như vậy mới có thể nói đến vị trí độc lập của ba cơ quan thực hiện ba nhánh quyền lực Nhân dân.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh, đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, trong đó chú ý đẩy mạnh việc chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo phương pháp quản lý và làm việc, ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, hướng dẫn, hỗ trợ người dân tham gia cuộc sống số một cách lành mạnh và hợp pháp.

Thạc sĩ Nguyễn Duy Quốc

--------------------

[1] Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

2 Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Viết tắt là Nghị quyết số 27-NQ/TW.

3 Nguyễn Ái Quốc viết trong bài diễn ca nói về tám yêu sách gửi các nước đồng minh họp Hội nghị Véc-xây đầu năm 1919.

4 GS.TSKH ÐÀO TRÍ ÚC. https://phutho.gov.vn/vi/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-nha-nuoc-phap-quyen-cua-nhan-dan-do-nhan-dan-vi-nhan-dan (cập nhật: Thứ hai, 05/12/2022 14:57).

5 khoản 2, Điều 4 Hiến pháp năm 2013.

---------------------
* Tài liệu tham khảo:

- Hiến pháp năm 2013.

- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

- GS. TSKH Ðào Trí Úc – Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. (https://phutho.gov.vn/vi/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-nha-nuoc-phap-quyen-cua-nhan-dan-do-nhan-dan-vi-nhan-dan. cập nhật: Thứ hai, 05/12/2022 14:57).

- GS.TS. Trần Ngọc Đường – Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội – 2011.

- PGS.TS. Lê Minh Thông Đổi mới hoàn thiện Bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân ở Việt Nam hiện nay – Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội – 2011.

- PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh – Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - lý luận và thực tiễn – Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội – 2010.





Chia sẻ bài viết:  
  In bài viết




VIDEO

Liên kết