ĐƯA NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG

TP Cần Thơ chỉ tiêu phổ cập giáo dục và xóa mù chữ đạt kết quả bền vững
TP Cần Thơ chỉ tiêu phổ cập giáo dục và xóa mù chữ đạt kết quả bền vững
Cập nhật lúc 06:51 ngày 06/09/2021


Trong 10 năm qua (2011-2021), thành phố Cần Thơ đã có nhiều chủ trương, đường lối nhằm cụ thể hóa Chỉ thị Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị “Về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn” (Viết tắt là Chỉ thị số 10-CT/TW); qua đó, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của thành phố ngày càng phát triển; công tác xã hội hóa giáo dục có nhiều tác động tích cực đến việc phổ cập giáo dục và xóa mù chữ; các lực lượng xã hội tham gia hiệu quả trong đóng góp xây dựng trường lớp; việc huy động trẻ đến học các lớp chính quy, vận động học sinh đã bỏ học vào học các lớp phổ cập và hỗ trợ kịp thời cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn được thành phố quan tâm; tỷ lệ người dân biết chữ tiếp tục được nâng lên; số trẻ em đến trường đúng độ tuổi đạt tỷ lệ ngày càng cao; thực hiện phổ cập giáo dục mầm non trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đạt mức độ 3 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt mức độ 2.


Ảnh minh họa.

Hoàn thành các chỉ tiêu quan trọng về phổ cập giáo dục và xóa mù chữ

;Năm 2020, thành phố đã:

+ Phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 ở 09/09 quận, huyện, đạt tỷ lệ 100% (năm 2012 đạt mức độ 1);

+ Phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 1 ở 09/09 quận, huyện, đạt tỷ lệ 100%. Trong đó, 05/09 quận, huyện đạt phổ cập trung học cơ sở mức độ 2;

+ Xóa mù chữ mức độ 2, ở 09/09 quận, huyện, đạt tỷ lệ 100%, (năm 2012 có 09/09 đạt mức độ 1).

Đến năm 2021, thành phố:

+ Có 97,27% trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học, tăng 4,7% so với năm 2012;

+ Tỷ lệ học sinh học được học 2 buổi/ngày đạt 85,1%, tăng 22,7% so với năm 2012;

+ Tỷ lệ huy động học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp 6 đạt 99,6%, tăng 5,43% so với năm 2012;

+ Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99%, tăng 6,2% so với năm 2012.

Có thể khẳng định, qua 10 năm triển khai và thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW thành phố đã có nhiều nỗ lực trong các mặt công tác, nhất là tăng cường thực hiện phối hợp từng ở cấp, từng ngành; công tác tham mưu, việc xã hội hóa giáo dục, khuyến học - khuyến tài, đầu tư cho nguồn lực con người, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, khắc phục tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng, tăng cường mở các lớp phổ cập, bổ túc văn hóa,… ngày càng được quan tâm thực hiện đã mang lại nhiều thay đổi về chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất trường lớp, số lượng và chất lượng cán bộ quản lý và giáo viên, đặc biệt là chất lượng, tỷ lệ phổ cập giáo dục, xóa mù chữ được nâng cao, duy trì bền vững. Đạt được kết quả này chính là nhờ thành phố vận dụng nhuần nhuyễn và hiệu quả các quan điểm, giải pháp chỉ đạo theo tinh thần Chỉ thị số 10-CT/TW, với kết quả cụ thể như:

Một là, thành phố nỗ lực thực hiện việc bổ sung và hoàn thiện chính sách và bảo đảm các điều kiện cần thiết hỗ trợ bậc mầm non phát triển bền vững; nâng dần tỷ lệ huy động trẻ từ 3 đến 5 tuổi được học mẫu giáo, thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày; hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi vào năm 2015.

Xác định công tác phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi là nhiệm vụ chính trị quan trọng, trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội từ thành phố đến cơ sở thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp thực hiện công tác phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi thông qua các chỉ thị, nghị quyết. Theo đó, mạng lưới trường lớp được đầu tư phát triển, đầu tư mua sắm thiết bị, đồ dùng, đồ chơi trong lớp, ngoài trời phù hợp đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi; phát triển trí tuệ và thể chất; xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, tích cực, xanh, sạch, đẹp, an toàn. Từ đó, tạo được lòng tin cho phụ huynh an tâm gửi con đến trường, đảm bảo 100% trẻ đến trường được học chương trình giáo dục theo quy định, được học 2 buổi/ngày; đảm bảo các điều kiện chăm sóc nuôi dạy trẻ; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi đều thấp hơn so với tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; thực hiện tuyên truyền huy động trẻ đến lớp, chăm sóc sức khỏe cho trẻ, đặc biệt là học sinh người dân tộc thiểu số, với các chế độ chính sách cho trẻ theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP về việc miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập theo Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011 - 2015, hỗ trợ ăn trưa cho trẻ 3 - 4 tuổi; hàng năm, công tác phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi luôn được quan tâm thực hiện và đạt kết quả cao, tỷ lệ trẻ 5 tuổi huy động đến lớp đạt 100%, cơ sở vật chất đảm bảo 01 lớp/01 phòng học, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên đa số đạt và vượt chuẩn so với quy định.

Hai là, tiếp tục củng cố vững chắc và phát triển kết quả phổ cập giáo dục đã đạt được; hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi ở những huyện, xã chưa đạt chuẩn; từng bước tiến hành phổ cập giáo dục trung học ở những nơi có điều kiện theo quy định của Chính phủ. Không phải gần đây Cần Thơ mới hoàn thành phổ cập tiểu học, mà từ năm 2005 thành phố đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Hiện nay, công tác này tiếp tục được duy trì, có 09/09 quận, huyện, với 83/83 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 3 (theo quy định của Thông tư số 36/2009/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Ba là, việc tăng cường hỗ trợ giúp các địa phương đẩy mạnh công tác xóa mù chữ cho những người trong độ tuổi lao động, giảm tỷ lệ người tái mù chữ ở người lớn luôn được thành phố quan tâm. Hiện nay, ở từng địa phương tỷ lệ người biết chữ ở thành phố hàng năm đều tăng, việc huy động và duy trì sĩ số ở các cấp học được đảm bảo, tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học có chiều hướng giảm. Sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW, tỷ lệ người biết chữ được nâng lên; đến năm 2020, thành phố đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2; tỷ lệ người trong độ tuổi từ 15 đến 35 biết chữ, đạt 99,09%, tăng 7,2% so với năm 2012; tỷ lệ người trong độ tuổi từ 15 đến hết tuổi lao động biết chữ, đạt 95,55%, tăng 8,6% so với năm 2012.

Bốn là, thành phố triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện tốt việc phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở theo hướng dẫn tăng nhanh tỷ lệ học sinh vào học ở các trường trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề. Theo đó, công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở nhằm giúp học sinh chủ động lựa chọn con đường tiếp tục học hoặc đi vào làm việc ở một số lĩnh vực nghề nghiệp, phù hợp với hoàn cảnh, năng lực của học sinh và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong thời gian qua, các địa phương đã phát động xã hội hóa giáo dục trong việc thực hiện chủ trương phân luồng; ngành Giáo dục thành phố đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục tổ chức hướng nghiệp cho học sinh lớp 9, cung cấp cho học sinh trung học cơ sở những hiểu biết ban đầu về hướng nghiệp, tạo điều kiện để học sinh được tiếp tục học tập hoặc chọn ngành nghề phù hợp để tham gia học tập gắn với điều kiện việc làm.

Năm là, tập trung nguồn lực phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng và hiệu quả phổ cập giáo dục ở những vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa; có những giải pháp tích cực để nâng cao trình độ tiếng Việt, giảm tỷ lệ lưu ban và bỏ học đối với học sinh ở những vùng khó khăn, đặc biệt là học sinh người dân tộc thiểu số.

Bên cạnh công tác giáo dục chung, thành phố cũng quan tâm nhiều đến việc dạy học song ngữ trong trường tiểu học, chỉ đạo các đơn vị điều tiết những giáo viên có trình độ, năng lực về song ngữ giảng dạy ở các trường có tỷ lệ người dân tộc cao, thường xuyên theo dõi kết quả giảng dạy từng thời điểm để có hướng điều chỉnh kịp thời. Cùng với đó, việc dạy học Tiếng Dân tộc Khmer tại các trường tiểu học có nhiều học sinh là người dân tộc Khmer được tăng cường; thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với học sinh. Việc chuyển giao nội dung học tập đến học sinh rõ ràng và phù hợp với khả năng của học sinh, thể hiện ở từng nội dung, yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành khi thực hiện nhiệm vụ; hình thức sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thú nhận thức của học sinh; đảm bảo cho tất cả học sinh tiếp thu một cách tốt nhất. Từ đó, góp phần giảm tỷ lệ lưu ban và bỏ học của học sinh.

Ngoài ra, thành phố tạo điều kiện thuận lợi, huy động học sinh là người dân tộc có nguyện vọng vào học tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú và thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với người dân tộc khi tham gia học tập. Bên cạnh đó, các địa phương tăng cường huy động mọi nguồn lực trong xã hội để hỗ trợ về vật chất trong dịp lễ, tết cổ truyền của người dân tộc,… tạo điều kiện để các em học sinh dân tộc Khmer tiếp tục đến trường; hiện 100% trẻ là người dân tộc thiểu số đều được chuẩn bị tiếng Việt trước khi vào lớp 1.

Sáu là, quan tâm hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; hoàn thiện chính sách thu hút giáo viên công tác tại vùng đặc biệt khó khăn và giáo viên dạy bổ túc văn hóa trung học phổ thông cho cơ sở dạy nghề và các trung tâm giáo dục thường xuyên. Xác định rõ vị trí, vai trò tầm quan trọng của chất lượng đội ngũ giáo viên đối với công tác giáo dục; hàng năm, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo tổ chức, rà soát, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, khắc phục dần tình trạng thiếu giáo viên; thành phố cũng luôn quan tâm đến các chế độ chính sách đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ở các đơn vị trường học được thực hiện cơ bản kịp thời và đúng theo quy định hiện hành như: chính sách về tiền lương, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp chức vụ và các khoản phụ cấp khác… Bên cạnh đó, thành phố tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ giáo viên mầm non và giáo viên thực hiện công tác giáo dục phổ cập theo Nghị quyết số 11/2013/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố với mức phụ cấp 0,5 lần mức lương cơ sở; Nghị quyết số 12/2013/NQ-HĐND về hỗ trợ giáo viên phụ trách công tác phổ cập giáo dục bằng 0,3 lần mức lương cơ sở và Nghị quyết số 3/2015/NQ-HĐND về hỗ trợ giáo viên làm công tác quản lý các trường mầm non mẫu giáo bằng 0,5 lần mức lương cơ sở.

Bảy là, thành phố huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển mạng lưới trường lớp, nâng cấp cơ sở vật chất, bổ sung đồ dùng, thiết bị dạy và học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, phục vụ thiết thực công tác phổ cập giáo dục. Thực hiện tốt chương trình đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề; đồng thời tăng đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục.

Trong 10 năm thực hiện chỉ thị, toàn thành phố đã tập trung đầu tư về mọi mặt cho công tác giáo dục, đặc biệt là xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia phải gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Trong đó, công tác xã hội hóa giáo dục được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm, xem đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, huy động nhân lực, vật lực, tài lực đầu tư cho công tác giáo dục, cụ thể: xây dựng trường lớp, mua sắm trang thiết bị giảng dạy, hỗ trợ học sinh, giáo viên; đặc biệt là đối tượng chính sách, người dân tộc, người có hoàn cảnh khó khăn, tạo mọi điều kiện hỗ trợ để giáo viên an tâm công tác, học sinh trong độ tuổi đều được đến trường, tạo sự bền vững cho công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ hàng năm.

Bên cạnh đó, chương trình mục tiêu quốc gia về công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ thời gian qua đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho địa phương, nâng cao dân trí, tạo nhiều cơ hội trong tìm kiếm việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, góp phần hoàn thành nhiều chỉ tiêu quan trọng về kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng thời, cơ sở vật chất phục vụ công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ cũng được các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành đặc biệt quan tâm, xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể từng năm, nhất là ưu tiên đầu tư cho các quận, huyện còn khó khăn. Qua đó, các cơ sở giáo dục được trang bị đầy đủ danh mục thiết bị dạy học tối thiểu do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; các trường được đầu tư theo hướng hiện đại, có phòng thí nghiệm, thực hành và phòng vi tính nối mạng nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học.

Những tồn tại, hạn chế

Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ cập giáo dục, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn được nâng lên, có nhiều chuyển biến rõ rệt; hàng năm xây dựng kế hoạch và đề ra những giải pháp nhằm phấn đấu đạt các tiêu chuẩn về phổ cập tại địa phương, đơn vị. Tuy nhiên, việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định, như:

- Công tác phổ cập giáo dục cho trẻ mầm non 05 tuổi, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở tuy được nâng lên nhưng chưa bền vững, chưa đồng đều giữa các trường; tỷ lệ học sinh yếu kém, lưu ban, bỏ học có giảm nhưng vẫn còn cao so với mặt bằng chung của cả nước; điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở một số trường còn khó khăn; chất lượng dạy học môn ngoại ngữ, môn tin học, giáo dục kỹ năng sống còn hạn chế.

- Hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tuy đã được đầu tư, song chưa đáp ứng được yêu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ, cụ thể: thiếu diện tích đất, thiếu phòng học (dạy 2 buổi/ngày), thiếu phòng bộ môn, sân chơi, bãi tập,…

- Đội ngũ giáo viên còn thiếu theo quy định, nhất là giáo dục mầm non; tỷ lệ giáo viên có năng lực, trình độ chuyên môn cao còn ít, một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên chậm được bồi dưỡng, học tập, nâng cao trình độ nên chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của giáo dục trong thời kỳ mới.

- Nhận thức của một bộ phận cha mẹ học sinh còn hạn chế, ít quan tâm và chưa tạo điều kiện thuận lợi để con em được học tập tốt hơn. Một số gia đình do hoàn cảnh còn khó khăn về kinh tế nên các em phải bỏ học để phụ giúp gia đình, theo gia đình đi làm thuê theo mùa vụ hoặc đi làm ở các khu công nghiệp trong và ngoài thành phố, chỗ ở chưa ổn định nên phần nào ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở địa phương.

- Hoạt động của Ban Chỉ đạo phổ cập giáo dục và xây dựng xã hội học tập một số xã, phường, thị trấn chưa thường xuyên, thiếu sự phối hợp. Công tác tuyên truyền về phân luồng học sinh sau trung học cơ sở còn hạn chế nên chưa đạt theo kế hoạch đề ra. Công tác tư vấn, giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh sau trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông chưa được chú trọng và quan tâm thực hiện, thiếu sự phối hợp với các doanh nghiệp trên địa bàn; nội dung tuyên truyền hướng nghiệp chưa đa dạng, phong phú nên việc phân luồng học sinh sau trung học cơ sở kết quả chưa cao; đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác hướng nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm.

Tiếp tục thực hiện bền vững công tác phổ cập giáo dục,  xóa mù chữ

Triển khai thực hiện nội dung quan điểm của Trung ương và thành phố về công tác giáo dục và đào tạo nói chung theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2019 của Ban Bí thư về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 - 2025... Trong đó, tiếp tục tập trung tiến hành đồng bộ việc phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn một cách thường xuyên, liên tục nhằm tạo nền tảng dân trí vững chắc, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Cụ thể, với các nhiệm vụ như:

1. Tăng cường sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, tổ chức xã hội nhằm huy động tối đa số trẻ trong độ tuổi ra lớp, giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học; duy trì và nâng cao kết quả thực hiện các tiêu chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở; mở các lớp xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ cho đối tượng có nhu cầu, đặc biệt đối với người dân tộc, người lớn tuổi.

2. Tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức nhằm giúp cán bộ và Nhân dân hiểu, tạo sự đồng thuận và nâng cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và toàn xã hội, nhận thức được tầm quan trọng của công tác phổ cập giáo dục ở các cấp học và công tác xóa mù chữ; xem đây là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

3. Bổ sung và hoàn thiện chính sách và bảo đảm các điều kiện cần thiết hỗ trợ bậc mầm non phát triển bền vững; nâng dần tỷ lệ huy động trẻ từ 3 đến 5 tuổi được học mẫu giáo, thực hiện tốt việc chăm sóc, giáo dục trẻ, đầu tư cơ sở vật chất nhằm nâng cao tỷ lệ trẻ được 2 buổi/ngày.

4. Tiếp tục củng cố vững chắc và phát triển kết quả phổ cập giáo dục đã đạt được; nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở; từng bước tiến hành phổ cập giáo dục trung học ở những nơi có điều kiện theo quy định của Chính phủ.

5. Triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện tốt việc phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở theo hướng tăng nhanh tỷ lệ học sinh vào học ở các trường trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề. Tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học nghề; hỗ trợ các trung tâm giáo dục thường xuyên dạy bổ túc văn hóa trung học phổ thông gắn với dạy nghề; có cơ chế khuyến khích các cơ sở tuyển dụng học sinh sau trung học cơ sở qua đào tạo nghề; tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được học liên thông lên các cấp học cao hơn.

6. Tập trung nguồn lực phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả phổ cập giáo dục ở vùng nông thôn, còn nhiều khó khăn. Tiếp tục duy trì và nâng cao các giải pháp chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh người dân tộc trước khi vào lớp 1, giảm tỷ lệ lưu ban và bỏ học đối với học sinh ở những vùng khó khăn, đặc biệt là học sinh người dân tộc thiểu số.

7. Tiếp tục nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo của các trường sư phạm; đổi mới chính sách thu hút học sinh giỏi vào các trường sư phạm nhằm bảo đảm đủ số lượng và không ngừng nâng cao chất lượng, bảo đảm chuẩn hóa về trình độ đội ngũ giáo viên. Hoàn thiện chính sách thu hút giáo viên công tác tại vùng đặc biệt khó khăn và giáo viên dạy bổ túc văn hóa trung học phổ thông cho cơ sở dạy nghề và các trung tâm giáo dục thường xuyên.

8. Huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển mạng lưới trường lớp, tăng cường đầu tư xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, nâng cấp cơ sở vật chất, bổ sung đồ dùng, thiết bị dạy và học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa phục vụ thiết thực công tác phổ cập giáo dục. Thực hiện tốt chương trình đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp tục xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề; đồng thời, tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục.

9. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác phổ cập giáo dục và xóa mù chữ, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích tốt, phối hợp liên ngành, phát huy kết quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm đạt mục tiêu phổ cập giáo dục và xóa mù chữ.

Nguyễn Ngọc Quy





Chia sẻ bài viết:        Chia sẻ Zalo Google Bookmarks 
  In bài viết